Đồ chay tự làm không có chất bảo quản nên hỏng nhanh hơn hàng mua. Nhưng mỗi món có hạn rất khác nhau, từ hai ngày tới cả năm.
Bài này gom lại thành bảng để tra nhanh.
Nhóm hạn ngắn: hai tới năm ngày
Sữa hạt chưa nấu: ba ngày. Ngăn mát.
Sữa đậu nành đã nấu: ba ngày. Chai kín.
Sữa yến mạch: ba ngày. Ngắn nhất trong nhóm sữa.
Đậu phụ tươi: năm ngày. Ngâm nước, đổi nước mỗi ngày.
Tào phớ: hai ngày. Rất ngắn.
Váng đậu tươi: hai ngày. Chưa phơi.
Mì căn đã luộc: năm ngày. Ngâm nước luộc.
Tempeh mở gói: năm ngày. Ngăn mát.
Sữa chua thực vật: năm ngày. Đậy kín.
Nem chua chay: ba ngày. Không để lâu hơn.
Kho quẹt: một tuần. Phủ dầu.
Nhóm này phải tính vào bữa. Làm vừa đủ.
Đổi nước ngâm mỗi ngày với đậu phụ và mì căn. Kéo dài thêm.
Nhóm hạn ngắn là nhóm nên làm lượng nhỏ và đều, chứ không phải làm mẻ lớn để dành. Tính khẩu phần trước.
Nhóm hạn vừa: một tới bốn tuần
Chả lụa chay: năm ngày ngăn mát. Ba tháng đông.
Chả chiên: bốn ngày ngăn mát. Hai tháng đông.
Giò thủ chay: năm ngày. Phải để ngăn mát.
Chả giò cuốn sống: ba tháng đông. Không rã trước khi chiên.
Viên chay đã hấp: bốn ngày ngăn mát. Ba tháng đông.
Chà bông nấm: hai tuần. Nhiệt độ phòng.
Ruốc mít: hai tuần. Cùng nhóm.
Muối mè: một tháng. Hũ kín.
Muối đậu phộng: hai tuần. Nhiều dầu, nhanh ôi.
Sốt và món chấm nhiều dầu: hai tuần. Ngăn mát.
Dưa muối chua: hai tuần. Ngăn mát sau khi đủ chua.
Nhóm này hợp chuẩn bị theo tuần. Nấu cuối tuần.
Ghi ngày là bắt buộc với nhóm này. Dễ quên nhất.
Nhóm hạn vừa là nhóm hợp nhất với cách nấu chuẩn bị sẵn cho cả tuần. Trọng tâm của bếp bận.
Nhóm hạn dài: nhiều tháng tới một năm
Tàu hũ ky khô: sáu tháng. Hũ kín nơi khô.
Nấm khô tự sấy: một năm. Nếu khô kỹ.
Rau củ sấy: sáu tháng. Cùng điều kiện.
Chao: một năm. Càng để càng đậm.
Tương: một tới hai năm. Chưa mở nắp.
Tương đã mở: sáu tháng ngăn mát. Dùng đũa khô.
Giấm tự nuôi: nhiều năm. Chai kín nơi mát.
Hạt khô chưa rang: sáu tháng. Hũ kín.
Hạt đã rang: hai tuần. Ngắn hơn nhiều.
Bột gluten khô: một năm. Như bột thường.
Thính gạo: ba tháng. Hũ kín.
Nhóm này là kho dự trữ của bếp. Mua và làm theo mùa.
Kiểm kho ba tháng một lần. Bỏ thứ quá hạn.
Chênh lệch giữa hạt sống và hạt rang là chỗ nhiều người nhầm nhất, rang xong là đồng hồ chạy rất nhanh. Rang lượng vừa dùng.
Dấu hiệu nhận biết hỏng
Mùi chua với món không phải đồ chua. Dấu hiệu chung.
Bề mặt nhớt. Vi khuẩn.
Nước ngâm đục và nhớt. Với đậu phụ và mì căn.
Mốc xanh, đen hoặc hồng. Bỏ cả hộp.
Mốc trắng mỏng trên dưa muối. Hớt được nếu mới.
Hộp phồng. Sinh khí.
Mùi men nồng bất thường. Đã lên men ngoài ý muốn.
Mùi dầu hắc với đồ khô. Ôi dầu.
Đồ khô mềm lại. Hút ẩm, sấy lại được.
Đổi màu xỉn. Đáng nghi.
Kết cấu nhão bất thường. Với chả và giò.
Không nếm thử để kiểm. Nguyên tắc an toàn.
Nghi ngờ thì bỏ. Không cân nhắc lâu.
Nấu chín lại không cứu được đồ đã hỏng, vì độc tố vi khuẩn chịu được nhiệt. Đừng cố tiếc.
Cách kéo dài hạn dùng
Để nguội hoàn toàn trước khi cất. Áp cho mọi món.
Hộp và hũ kín. Điều kiện cơ bản.
Tiệt trùng hũ trước khi dùng. Với món để lâu.
Dùng đũa và thìa khô. Quan trọng hơn người ta nghĩ.
Chia hộp nhỏ theo bữa. Không mở đi mở lại.
Múc riêng phần ăn ra hâm. Không hâm cả hũ.
Phủ lớp dầu với món chấm. Chắn không khí.
Đổi nước ngâm mỗi ngày. Đậu phụ và mì căn.
Trữ đông thay vì ngăn mát khi có thể. Kéo dài gấp nhiều lần.
Hút bớt khí trong túi đông. Tránh cháy đông.
Đặt ở đáy ngăn đông. Nhiệt ổn định.
Không để cánh cửa tủ lạnh. Nhiệt dao động.
Không đông lại thứ đã rã. Cả an toàn lẫn chất lượng.
Dùng đũa khô và chia hộp nhỏ là hai thói quen rẻ nhất mà kéo dài hạn dùng nhiều nhất. Không tốn gì cả.
Ghi chép và quản lý kho bếp
Ghi ngày làm lên mọi hộp. Không phải ngày cất.
Dùng bút dạ viết lên băng dán. Gỡ được.
Ghi cả tên món. Đồ đông trông giống nhau.
Dùng theo thứ tự cũ trước. Nguyên tắc kho.
Xếp hộp cũ ra phía trước. Nhìn thấy trước.
Kiểm ngăn mát mỗi tuần. Mười phút.
Kiểm ngăn đông mỗi tháng. Dễ quên nhất.
Kiểm kệ đồ khô ba tháng. Bỏ thứ quá hạn.
Ghi danh sách tồn vào sổ. Hoặc dán lên tủ.
Lên thực đơn theo thứ sắp hết hạn. Cách chống lãng phí.
Không tích trữ quá nhiều. Lãng phí hơn tiết kiệm.
Làm lượng vừa với nhịp ăn của nhà. Điều chỉnh sau vài tuần.
Ghi lại thứ hay bị bỏ phí. Lần sau làm ít đi.
Phần lớn đồ chay tự làm bị vứt đi là do quên chứ không do hỏng sớm, nên ghi chép giải quyết được gần hết. Một cây bút là đủ.
Lỗi hay gặp
Cất khi còn ấm. Đọng hơi, nhanh chua.
Không ghi ngày. Lỗi phổ biến nhất.
Dùng đũa ướt hoặc bẩn. Hỏng cả hộp.
Hâm lại cả hũ nhiều lần. Nhanh hỏng.
Để ở cánh cửa tủ lạnh. Nhiệt dao động.
Không đổi nước ngâm đậu phụ. Nhanh chua.
Đông lại thứ đã rã. Không an toàn.
Túi đông không kín. Cháy đông.
Trữ hạt đã rang quá lâu. Ôi dầu.
Tin hạn dùng của hàng mua cho đồ tự làm. Khác hẳn.
Nấu lại đồ đã chua để cứu. Không cứu được.
Tích trữ quá nhiều. Quên và bỏ phí.
Không kiểm ngăn đông định kỳ. Đồ nằm cả năm.
Đồ chay tự làm không kém an toàn hơn hàng mua, chỉ là hạn ngắn hơn nên phải chủ động hơn. Ghi ngày và ăn đúng hạn.